1.
Nhân trước khi đi công tác Hà Nội, tôi nói với cô bạn đồng nghiệp ở trường:
– Nếu có thời gian, anh sẽ đi thăm làng cổ Đường Lâm. Ba năm học ở Hà Nội, cứ trù tính đi mãi, rồi thế nào mà chẳng thể đi được. Tiếc thật!
– Thế anh dự định đi bằng cách nào. Cô ấy hỏi.
– Chắc là anh đăng ký tuor, chứ lạ nước lạ cái biết đường nào mà đi. Còn nếu tự đi thì cũng chẳng có ai thuyết minh, rồi cũng chẳng biết thêm được gì ngoài nhìn cảnh vật.
– Như vậy anh về với bố em đi, bố em ở một mình gần thị xã Sơn Tây, rồi em sẽ điện cho thằng em trai ở Hà Nội hôm sau nó sẽ về để đưa hai bác cháu về thăm làng cổ.
Cô ấy cùng cô bạn đồng nghiệp nữa cùng quê gốc ở làng cổ nhiệt tình vẽ sơ đồ, ghi số điện thoại,… hướng dẫn giúp tôi. Thật cảm động về tấm lòng hiếu khách của những người con vùng đất nổi tiếng cả nước…
Làm việc xong, tôi về khách sạn, ngủ vùi đến ba giờ chiều. Trả phòng, ra phía đường Láng đón xe Mười sáu về Mỹ Đình, mới biết giá xe buýt ngoài này đã lên đến chín nghìn đồng một lượt rồi, trong khi đó Sài Gòn chỉ từ năm đến sáu nghìn. Không biết thiên hạ đi đâu, mới giờ này mà xe đã đông nghẹt, phải đứng như nêm cối. Đến Bến xe Mỹ Đình, chân tôi gần như tê dại.
Vừa bước xuống xe, nhìn quanh quất để tìm xe đi Sơn Tây. Chẳng hiểu thế nào mà tờ giấy quan trọng, có sơ đồ, hành trình, số điện thoại với nhiều chỉ dẫn để đến làng cổ, tôi lại để quên ở Sài Gòn rồi. Thấy xe buýt ghi chữ Sơn Tây, tôi hỏi tài xế, xe có đi qua Trung Sơn Trầm không? May là tôi vẫn còn nhớ địa danh này. Trên xe đông kín người, ai cũng nói có, có chứ. Tôi đứng cuối xe, vừa để túi xách xuống sàn thì có cháu gái nhường ghế, ngồi chung với bạn. Bên phải là một cô gái tuổi lỡ lỡ, đeo kính. Tôi hỏi lại cho chắc chắn, có phải xe này đi qua Trung Sơn Trầm không vậy. Cô ấy nói đúng và hỏi lại, có phải chú người miền Trung, để cháu nghĩ, Bình Định hay Quảng Ngãi gì đấy. Tôi nói, mình ở Phú Yên.
Câu chuyện thật rôm rả, vì cô ấy là dâu của Bình Định, vừa đi dự Hội nghị ở Phú Yên về. Và không biết từ khi nào, cô ấy trở thành người dẫn đường cho tôi. Xe đi qua Quốc Oai, rồi đến Thạch Xá, nơi có chùa Tây Phương với bài thơ nổi tiếng nằm trên quả đồi chơ vơ ở cuối cánh đồng. Địa hình chuyển dần từ đồng bằng đến trung du. Cũng thật là lạ, khi đi qua một đoạn nữa, là bãi chăn thả hàng trăm con trâu. Ngạc nhiên tôi hỏi, nơi đây không phải vùng sình lầy mà người ta nuôi trâu làm gì nhiều đến vậy thì được giải thích, nuôi trâu dễ và lãi hơn nuôi bò. Nuôi để thịt chứ không phải là để phục vụ nông nghiệp. Tiếp đến là Hòa Lạc – Phố Lính, với Trường Sĩ quan Lục quân 1, Học viện Phòng không Không quân,… và cũng là nơi vừa xảy ra tai nạn máy bay trong lúc tập luyện. Cũng đến lúc chia tay với cô gái tốt bụng, hỏi nhanh tôi mới biết, cô về quê để tối nay dự lễ lên Sao của ông anh bộ đội, tên là Mai ở Bộ Giao thông Vận tải…
2.
Thành phố Sơn Tây đã ở trước mặt, qua xã Sơn Đông là đến chợ Trung Sơn Trầm. Nhớ lời cô bạn dặn, tôi xuống chợ cũ, cách đấy không xa về phía đối diện là con đường vuông góc. Tôi đếm, 1, 2, 3, 4 và dừng ở nhà thứ 5. Cửa mở, qua nhà xay bột là khoảng sân với nhiều cây cảnh, rồi đến ngôi nhà màu vàng nhạt đã mở cửa. Bố cô ấy đã chờ sẵn. Tôi nói, cháu là … ở Sài Gòn ra. Ông nói, tôi nghe cháu nó nói rồi. Một con người dáng nhanh nhẹn, có đôi mắt như cười và đặc biệt, miệng có duyên. Tôi nhìn vội và đánh giá nhanh, còn ông nhìn tôi với vẻ dò xét…
Ông hỏi tôi, được năm mươi ký không. Hơi ngạc nhiên vì câu hỏi này, mình đi chơi chứ có đi hỏi vợ đâu mà cụ hỏi tường tận đến thế. Nghĩ vậy, nhưng vẫn trả lời, dạ, được năm mươi lăm, mười năm nay chưa lên xuống. Ông cười, nặng đấy, mình chỉ năm mốt. Rồi lại hỏi tiếp, cao bao nhiêu? Dạ, năm 1974 cháu cao 1,62 m, còn giờ thì chắc thấp hơn. Cũng được. Ừ, mình cũng vậy, trước 1,61 m, nay không được vậy. Rồi ông lại buộc miệng, chồng đứa đầu cũng cao đến từng ấy thôi. Tôi lại không hiểu, sao cụ so sánh để làm gì. Tôi hỏi, xin phép, năm nay bác bao nhiêu. Cụ nói, sinh năm 1935, nhưng ai cũng nói, chỉ đến bảy mươi. Cụ cười trong mắt. Như vậy là bác cùng tuổi mẹ cháu. Ông bảo, anh tắm táp đi rồi còn ăn tối. Cơm mình đã nấu rồi, chỉ làm thêm thức ăn một tí là xong.
Tôi xin phép, con cháu phải phục vụ các cụ chứ, ai để… Cô ấy nói, bác uống cũng được vài ba chai, hay là bác cháu ta ra quán, ăn uống, nói chuyện cho vui, bác nhé! Ông không nói gì, cầm phích nước nóng và đưa tôi xuống gian dưới, rẽ trái qua phòng tắm kiêm nhà vệ sinh. Nền được lát gạch hoa sáng sủa, tuy nhiên, nhìn vội thì ai cũng biết, lâu lắm không ai dọn dẹp đến. Vốn máu lính, và nếu không dọn dẹp thì khó giặt quần áo và cả việc tắm rửa nữa, nên tôi tự nguyện làm cái việc không phải của khách. Ba mươi phút sau, tôi và bác đi ra quán Hùng Ti ngoài lộ chính. Cụ bảo, đây là quán quen. Cụ gọi một đĩa cánh gà và hai chai bia Hà Nội.
– Bác cháu ta làm vai chai cụ nhen. Tôi nói.
– Không, ít thôi. Trưa nay nhà bị cúp điện, tớ ăn bánh mì, rồi uống một chai rồi.
Uống được vài hớp, tôi hỏi qua về gia cảnh, công việc của cụ trước đây. Như “gãi đúng chỗ ngứa”, bao nhiêu năm, tháng vui, buồn bắt đầu được tái hiện… Chắp vá, xâu chuỗi các dữ kiện, tôi mới biết ti tí về quãng đời của cụ… Nhà mình ở Đường Lâm, nơi có hai vua là Phùng Hưng và Ngô Quyền. Họ Hà nhà mình, ai cũng có tài ăn nói, có lẽ do có bộ “khẩu”, nói theo kiểu chiết tự. Thuở nhỏ, mình học giỏi, nghịch ngợm, được cử làm Trưởng Tràng, như lớp trưởng thời nay. Có lần, giáo viên bận việc phải về nhà sớm, nhờ tớ đọc bài chính tả và chấm tại lớp. Mình ghi bằng bút chì mấy lỗi, còn thầy chỉ việc, tẩy bút chì và thay bằng bút đỏ là xong. Mình có năng khiếu là có thể thuộc bài tại lớp. Nhưng đường học tập hình như không suôn sẻ lắm, hay bị gián đoạn, Năm lên mười, bố tớ mất, sau đó phải nghỉ học. Làm đủ việc, rồi đi học bổ túc ban đêm đến năm năm, sau đó học sơ cấp kế toán, làm thu mua, rồi đi thi đại học, học khóa gần đầu của Đại học Thương mại ngày nay ở Mai Dịch.
Mối tình đầu với cô gái làng, nhưng chắc gia đình họ chê mình nghèo, nên lấy anh chàng cải cách. Ngày hôm sau về nhà, nghe mẹ nói, tớ buồn, bỏ ăn đến mấy hôm. Về sau, hình như cô ấy hối hay sao mà nhà mình có việc hiếu, cô ấy thường đợi trước ngõ và phải là người đến viếng trước tiên. Mấy đứa con của cô sau này lại quý tớ. Chúng nó thường nói, phải chi bác là bố cháu. Có lần bà bị đau, tớ đến thăm. Bà nằm ở gian buồng bên trong nhưng không lên. Tớ bảo bọn trẻ, tao viếng người ốm, chứ có phải đi thăm chúng mày đâu mà ngồi ở đây. Tớ nhất quyết đòi xuống thăm. Nghe con nói, bà sợ tớ vào nên phải lên tiếp. Nhân lúc các cháu đi vắng là tớ… Bà thì có vẻ giãy nảy, nhưng lại không phản ứng gì. Có nhà còn tung tin, tớ bị bệnh này, bệnh kia để không gả con cho tớ. Sau đó cô kia lại sinh đến bốn đứa con gái. Gặp nhau ngoài đường, tớ chặn lại và nói, phải chi lấy tớ thì,… Già thì già chứ mặt bà ấy vẫn cứ đỏ giừ,… Có cô thì chồng bị chết yểu,… Sau này, tớ nghiệm ra là, họ chỉ chê nhà mình nghèo thôi.
Học xong, làm kế toán cho Trường Thương nghiệp, cũng có nhiều người đến, thạc sĩ có, kỹ sư cũng có, nhưng cuối cùng tớ lấy cô mậu dịch, con gia đình liệt sĩ, xinh xắn và nhỏ hơn nhiều chục tuổi. Vậy thế mà đến năm tám sáu, mình nghỉ hưu non thì năm chín mươi bà bỏ tớ ra đi. Đau thật. Tay xách nách mang ba đứa con, đến giờ cả hai cũng không ai lấy vợ, lấy chồng, nhưng tao hận, không cho bà về. Bà cũng không dám, trừ khi đi với các cháu. Nhà nghèo vậy, nhưng mày biết không (bác chuyển đại từ nhân xưng lúc nào không hay, cũng vui thật), tao chở ba đứa nó bằng xe đạp đòn dông ra thị xã ăn kem, con lớn ngồi trước khung xe, còn hai đứa bé ngồi sau baga, kem Hoa Sữa đàng hoàng, có ai dám chơi như tao không.
Trước nhà tao ở Đường Lâm, sau ra thị xã. Khi đứa lớn đậu đại học, tao bán nhà chuyển về chỗ hiện nay, để dôi ra ít tiền. Ngày lên xã chứng giấy tờ, tao bảo nó có ai hỏi thì nói, cũng ráng vậy thôi chứ học được ngày nào thì biết ngày nấy thôi, còn nếu không đi học thì làm sao bảo lưu kết quả được. Dốc hết tiền lương tao đưa cho con, chỉ giữ một ít để đóng tiền điện thôi. Tao nghĩ, nếu cần thì bán tiếp nhà, qua đứa em họ ở làng bên, nhà bảy tám gian, cho tao ở nhờ hai gian.
Đứa lớn thông minh, có tài hội họa, thêu thùa, thích thời trang, nhưng rồi cuối cùng lại học tâm lý. Gặp thằng chồng hiện nay, quen nhau ở trường rồi lấy, chứ chậm chậm một chút thì chẳng phải lấy được thằng khác tốt hơn hay sao. Tướng thằng đấy, làm việc xong, da trắng bệch thì còn làm ăn được gì nữa! Thuở ai đời, quê gần xứ chè mà chẳng thấy biếu nổi bố vợ cân chè. Nói vậy thôi chứ mấy đứa lo tao có thiếu gì đâu. Nhưng ít ra nó cũng phải biết nói, bố cháu biếu ông ít quà chứ.
– Chú ấy vụng chứ là người tốt. Ở trường chắc ít người biết chú. Hôm đi đám cưới người bà con của cụ hơi sớm, nên cô ấy có giới thiệu với cháu. Chú thuộc mẫu người ít nói. Chắc là cục mịch, nhưng thật thà. Tôi chống chế, nói đại.
– Mày biết không, tao vào thăm con cháu, khi về, lẽ ra nó phải đưa ra sân bay, khi nào làm thủ tục an ninh xong mới về chứ, còn đằng này…
Còn cô con gái, học hành đến vậy, cũng thường mua đồ đạc, quần áo cho tao, nhưng không hiểu sao lại mua khăn quàng màu vàng bao tải, có gạch màu xanh. Xin lỗi mày, tao thấy nó giống cái khố thằng đánh dặm quá. Áo quần thì mặc sao cho hòa với đám đông, không cần nổi bật, nhưng cái khăn quàng cổ nó nhỏ, thì màu phải sáng lên mới được. Ai nghĩ cụ tuềnh toàng là nhầm. Ý tưởng thời trang cụ đưa ra cũng đầy cá tính và hợp lý về màu sắc đấy chứ.
– Hai đứa con gái, tao cho làm nhà nước. Đứa út tuy không giỏi giang gì, nhưng được cái là nó xinh hơn. Nhiều thằng đến tán lắm, có thằng chủ yếu đến để khoe của. Nó lắc đầu ngay, sau này nó lấy chồng là Tổ trưởng Bộ môn Thể chất của trường đại học. Còn thằng con trai, to khỏe, đẹp trai, nhiều đứa theo, nhưng cuối cùng nó lấy vợ hiện nay chẳng xinh xắn gì. Nó nói cũng có lý, lấy đứa nhà giàu xinh đẹp thì đời nào nó chịu hầu bố. Không giống như chị và em gái, nó làm ngoài, cũng được.
Câu chuyện dẫn dắt thế nào đến cô em họ cùng cơ quan với con gái đầu. Cụ bảo, nó xinh xắn, có học thức, Anh văn giỏi, gia đình nề nếp, nhưng không hiểu sao nó lấy thằng chồng như vậy, không cân xứng về gia cảnh, học vấn, hình thức. Cô lấy cũng chỉ để mà lấy thôi, chẳng yêu thương gì đâu, chắc là giận bố lắm đấy. Nhưng được cái, hai đứa con giống gen của cô, học hành giỏi giang lắm.
Ăn xong, về đến nhà đã gần mười giờ. Pha chè, uống nước xong, cụ bảo, giờ mày ngủ ở đây, còn tao thì… Tôi bảo đàn ông cả mà, ngủ chung cho khỏe, đỡ tốn công mắc mùng. Ông nói cũng được, để tối nay tao khám sức khỏe mày, thử xem sao! Nói vậy, chứ giữa tôi và cụ là máy quạt. Một ngày đủ chuyện trên đời, tôi chìm vào giấc ngủ lúc nào không hay…
3.
Sáng hôm sau, cả hai đều dậy sớm, nhưng cố gắng không ai làm ai thức giấc. Đến bảy giờ, tắm táp xong, hai bác cháu đi ăn sáng ở quán gần nhà. Phở sốt vang nóng hổi, và thích nhất là những cọng rau chuối cây trắng tinh, hơi chan chát, rất hợp với vị béo của thịt bò hầm. Về nhà, cụ nói, sáng nay thằng Huy ở Hà Nội về để đưa chúng ta đi chơi. Chỉ có hai bố con nó thôi, còn vợ bận đi họp lớp gì đấy.
Câu chuyện buổi sáng của cụ bắt đầu bằng hình ảnh của bố mẹ quê ra ở với con cái. Cụ có trí nhớ và tài tổng hợp, phân tích từ một bài viết rất lâu về lĩnh vực này. Cụ nói, “bố là kho quần cũ, mẹ là hũ nước rác”. Nhà quê vất vả, ra phố thấy gì cũng thấy tiêng tiếc nên xảy ra cơ sự nó vậy đó. Cụ còn kể về bốn điều tránh ở vùng đất này này, bằng chữ Hán:
“Mạc tranh Đại Đồng trưởng
Mạc thú Tảo Thượng thê
Mạc giao Đông Sàng hữu
Mạc thực Mỹ Lương kê
(Chớ tranh trưởng với dân Đại Đồng
Chớ lấy con gái Tảo Thượng làm vợ
Chớ kết bạn với người làng Đông Sàng
Chớ ăn thịt gà Mỹ Lương)”.
Tất nhiên, có nhiều lý do, nhưng tôi chỉ còn nhớ, đại để con gái Tảo Thượng đa tình, người Đông Sàng ít thật; còn tại sao không ăn thịt gà Mỹ Lương, vì họ ăn bẩn, lấy nước làm lông gà nấu lại để dùng, vì quan niệm rằng thế mới bổ,…
Vùng này trước đây chủ yếu là dân Mường, tổ tiên tao chắc cũng vậy thôi. Tôi nói, Mường và Việt là một mà, đều không có chữ viết. Nghe nói lại, không biết có đúng hay không. Thuở xưa, nhà trời gọi các dân tộc đi lấy chữ viết. Hai anh em Mường – Việt lâu ngày gặp nhau, ăn uống no say. Tâm sự lâu quá, nên đến trễ không nhận được chữ, vì trời đã ban phát hết rồi. Cả hai có tiếng nói na ná. Ông bảo đúng vậy, người Mường nói nhiều âm “t”, ví dụ “ti tâu”? Là vùng đất bán sơn địa, nên ở đây có nhiều loại khoai, sắn rất ngon. Lại nhớ đến những vần thơ tôi đọc ở đâu đó nói về Sơn Tây:
“Quê Anh nghèo chẳng cánh đồng bất tận
Áo nâu sồng Bầm vẫn bận ra đường
Quê Anh nghèo Khoai Sắn trải tứ phương
Ở nơi đó nắng mưa dường bất chợt”.
Tôi kể, ở vùng cháu có Mường Phú Thọ, Mường Hòa Bình và có câu nói nổi tiếng để chỉ sự danh giá của các dòng họ theo thứ tự là: Đinh, Quách, Bạch, Hà.
– Không phải vậy đâu, mà là Đinh, Quách, Bạch, Hoàng. Cụ cải chính. Tôi cũng chưa kiểm chứng lại để biết có chính xác hay không?
Câu chuyện đành chấm dứt vì Huy vừa về. Một chàng trai cao to, dễ nhìn và cả dễ gần nữa. Huy đưa chúng tôi về thủ phủ Sơn Tây, đi qua một góc thành cổ, ôm cua đi ngang qua cầu Vĩnh Thịnh, cầu vượt sông dài nhất Việt Nam vừa mới khánh thành hôm 8/6 thì phải. Xóm Trại với từng ruộng ngô bậc thang xanh ngắt đang mùa trỗ cờ. Xa xa là những ngôi nhà nhỏ, thấp, có lẽ để trong nom ruộng ngô. Không hiểu có phải vì vậy mà được gọi là xóm Trại hay không. Cổng làng Mông Phụ đang ở trước mặt. Dân đinh đón lại, nhưng vì Huy là dân Đường Lâm “chính chủ” nên cứ “nghênh ngang” đánh xe đi thẳng, đậu tại bãi trống gần sân đình. Tôi và cụ vào lễ ở đình làng. Một ngôi đình cổ kính, với hàng cột bằng gỗ lớn, nghe nói xây vào thời Lê Trung Hưng.
Cả nhà (tạm gọi là vậy, và cũng đúng vậy) chúng tôi đi trên con đường làng, rộng và thoáng. Hầu như tường nhà nào cũng xây bằng đá ong ở dưới, còn phía trên hình như là đất trộn với gạch, đá vụn. Cụ nói, hay ta ghé nhà chú họ của tớ đi. Trước khi đi ra ngoài này, tôi đã hỏi bạn tôi địa chỉ để tiện đường ghé qua, nhưng bạn ấy nói, bố em khó tính lắm, nên không có kế hoạch thăm viếng. Vườn rộng, trước sân là khoảng trống với nhiều loại cây cảnh, còn trong sân là các loài hoa: lưu ly, hồng trắng, hướng dương,… và đặc biệt là hoa nến đang trổ bông màu vàng thẫm, chúm chím hình elip đứng, trông như ngọn nến. Phía bên, những nhành liễu mong manh đang phất phơ trước gió…
4.
Trước mặt tôi là người đàn ông cao, quắc thước, nghiêm nghị. Cụ trẻ (tạm gọi là vậy vì ông ở vai cháu) chào chú và giới thiệu tôi là đồng nghiệp của con gái hai ông về thăm làng cổ. Pha trà xong, cụ mời uống nước và rót mỗi người một ly bia lon Hà Nội. Chắc biết tôi công tác trong ngành giáo dục, nên cụ nói về sự học thời Pháp thuộc, bằng tiếng Pháp có, chữ Hán cũng có. May là, tôi được học ít tiếng Pháp thời Trung học đệ nhị cấp chế độ cũ, và một ít chương trình Tam tự kinh thuở nhỏ ở chùa làng, nên cũng tạm hầu chuyện được. Uống xong ly bia, cụ trẻ qua nhà thờ chi ở bên cạnh. Dù gì, tôi cũng là khách của chú họ ông, nên ông rút lui để chúng tôi nói chuyện. Câu chuyện xoay quanh đến nghĩa từ “phong kiến”, đó chính là phong tước và kiến địa, nhưng do cách hiểu mà làm xấu đi. Ta nhận lương hưu cũng chính là hình thức “tiền tệ hóa” của kiến địa mà thôi. Tôi cũng bình luận thêm một ít. Tôi điện thoại cho bạn, và chuyển cho cụ nghe. Tay cụ vốn dĩ đã run, nay run hơn vì cả tuổi già và cái chính là xúc động, và nhìn trong đôi mắt cụ, tôi biết cụ nhớ, nhớ con gái cụ lắm,… Nước mắt lúc nào cũng chảy xuống mà! Tôi không muốn viết thêm, sợ bạn ấy buồn, mà chắc là buồn lắm. Nỗi buồn như giấu vào trong.
Qua nhà thờ chi, rồi chụp một tấm ảnh ở trước cổng nhà. Cụ trẻ bắt tay cụ, vừa cười vừa nói, tay chú run run thế này thì còn … làm ăn gì được nữa. Nói xong, sợ cụ la hay sao mà vội bỏ đi ngay. Cụ đưa chúng tôi về thăm nhà cổ. Một ngôi nhà cổ theo đúng nghĩa của nó, có cổng nhà, nhà chính, nhà khách,…sân rộng đầy chum vại phơi tương. Nhớ quá, vì mẹ tôi cũng đã từng làm việc này. Đó là nhà của cháu cụ, cùng họ Hà. Hai người đang ngồi tràng kỷ, uống trà. Một người đeo kính, mặc áo ba lỗ, quần sọt, khuôn mặt xương xương, râu ria ít được chăm sóc đứng dậy bắt tay. Tôi nghĩ chắc là chủ nhà rồi. Trên bàn nhỏ bên cạnh, thấy có xếp mấy cuốn sách, như Tam Quốc chí, sách chữ Hán cũng có. Tôi nói, sách này bản dịch của Phan Kế Bính, bản dịch gốc đây, còn sau này có bản của Mộng Bình Sơn nữa. Có lẽ nghe giọng nói của tôi, nên bác ấy hỏi, quê anh hình như ở miền Trung. Tôi nói, em ở Phú Yên. Bác ấy nói, mình vừa đi Phú Yên về, công tác với Hội Văn nghệ, làm việc với nhà văn gì đó mà tôi chưa biết tên. À ra vậy, nhà văn nông dân như Ngô Phan Lưu ở quê tôi đây. Nghĩ thầm, may quá, mình chưa nói điều gì thất lễ với bác.
– Dạ, em chỉ biết Huỳnh Thạch Thảo, Phạm Ngọc Hiền, hoặc nhà báo như Lê Thiếu Nhơn, nhưng cũng chỉ biết trên mặt báo mà thôi. Tôi kể đại những người nổi tiếng ở quê tôi. Em xa quê lâu quá rồi. Thưa bác, cho em hỏi, bác viết với bút danh gì vậy?
– Mình không có bút danh, khi viết đều ghi tên thật, mình là Hà Nguyên Huyến. Hiện cùng nhà thơ Nguyễn Đức Mậu phụ trách trang Văn, Thơ của Tuần báo Văn Nghệ.
– Không biết cơ duyên nào mà em được gặp bác, em là fan hâm mộ của bác đấy từ khi đọc Thung mơ, Hạc trắng, Thím tôi,… Em làm biên tập cho Báo Khoa học của trường, cũng có liên quan một tí đến văn chương. Cũng viết lung tung, nhưng chưa bao giờ dám nghĩ đến tờ báo của bác. Tôi nói trong sự thán phục, ngưỡng mộ.
– Không sao, anh cứ viết đi khoảng hai ba ngàn từ gì đó thôi, nếu có làm thơ thì gửi chùm thơ vài bài. Thế nào mình cũng biên tập, đăng ngay trên trang đầu của Tuần báo. Viết về người mẹ làm tương của anh đi. Anh nói động viên, mình có phải là dân Văn, dân Khối A mà, học Triết, có học gì về văn chương, mà cũng viết, có sao đâu. Học lý luận để phê bình, nhưng chưa chắc đã sáng tác hay được. Khuôn mẫu sẽ làm mắt đi tính sáng tạo.
Tôi lại nhớ đến TS. Ngữ văn Trần Minh Hường cũng nói y hệt như vậy, khi tôi hỏi mượn sách Lý luận Phê bình Văn học để học cách viết lách. Chả là, khi nhìn ra sân đầy chum vại tương của bác, tôi có nói, mẹ em là một trong số ít người trong làng quê em còn biết làm tương. Tương quê em không làm bằng đậu nành, vì đắc tiền, thuộc hàng cao cấp, mà làm từ đỗ mèo, một loại đỗ dây leo hoang dại thường mọc bờ rào đình làng. Với em, tương đỗ mèo là ngon nhất, vì do mẹ em làm, có cả loại đỗ nơi em được sinh ra, em vốn ngụ ở đó nhiều năm mà, nên có cả hồn làng trong ấy. Có lẽ do cách nói chuyện hơi “dở người” của tôi do không biết anh là nhà văn, nên bác ấy quý hay sao đấy.
– Dạ, em sẽ viết và gửi cho bác, nhưng chắc là đề tài khác.
– Không, không sao cả, gì cũng được.
Bác hỏi số điện thoại, tên đầy đủ, địa chỉ mail và viết tên tôi bằng chữ Hán. Khi viết đến tên, bác ấy bảo phải thay bằng chữ Thành thôi, và phân tích từng bộ một. Cảm động thật, tôi nghĩ và thầm cảm ơn những người bạn trẻ đã cho tôi một mùa bội thu, cả về “Bánh mì” lẫn “Hoa hồng”.
Chia tay ngôi nhà cổ, chia tay với nhà văn quen trên giấy đã lâu, giừ mới gặp, thật bịn rịn và cảm động. Tôi nghĩ, suy cho cùng, ngoài cái duyên còn cốt ở cái tình. Bác ấy cứ cầm tay tôi, lắc lắc và nhắc mãi, chú cứ gửi, cứ gửi chú nhé!
5.
Cũng đến gần trưa, thăm xong Chùa Mía, ghé qua nhà cũ của cụ trẻ, chúng tôi mới đến đền thờ Bố cái Đại vương Phùng Hưng, nằm trên giải đất cao ráo. Đền kiến trúc theo kiểu chữ nhị, ngoài thờ các quan, còn bên trong thờ Vua. Ông Lương, ông từ giữ đền lại là đồng môn lớp sau của cụ trẻ, gióng chuông một hồi ba tiếng thật trịnh trọng để báo cáo với các cụ. Thật trịnh trọng, vì khách thường chỉ được gióng ba tiếng chuông mà thôi.
Đền Ngô Quyền – vị vua phương phi nhất trong các triều đại, người mở ra kỷ nguyên độc lập cho đất Việt vào năm 939, với chiến thắng Bạch Đằng lẫy lừng vào năm 938, chấm dứt luôn triều đại Nam Hán, cũng ở gần đấy thôi. Ông từ đang ngồi ăn trưa, thấy có khách vội bỏ đũa đón tiếp. Cụ trẻ giới thiệu cụ ở Mông Phụ, con cụ Phó Bạc. Ông từ tên là Sổ, mới tiếp nhận công việc do lệ làng quy định, ông từ chỉ phục vụ từ sau sáu mươi tuổi đến bảy lăm mà thôi. Có lẽ, cụ Phó Bạc là nhân vật có tiếng tăm nên ông Sổ nhận ra ngay.
Câu chuyện chúng tôi xoay quanh về những nhân vật lịch sử triều đại nhà Ngô. Ông Sổ nói, cách đây vài năm, cụ Nguyễn Cao Kỳ có về thăm đền, cũng ngồi ở vị trí cụ trẻ hiện nay đấy, nhưng bộ bàn ghế cũ đã chuyển sang bên kia rồi. Thắp nhang đền chính xong, chúng tôi xuống thăm lăng mộ. Phía trước mặt, là đường phân thủy, theo triền đồi nhấp nhô ruộng bậc thang. Còn hai bên bậc tam cấp đường xuống lăng được lát đá là những hàng cây sở chạy dọc theo, lại nhớ đến ca khúc “Chiều biên giới” (nhạc của Trần Chung, lời của Nhà thơ Lò Ngân Sủn):
“Em ơi có nơi nào đẹp hơn
Chiều biên giới
khi mùa đào hoa nở
Khi mùa sở ra cây
Lúa lượn bậc thang mây
Mùi toả ngát hương bay…”…
Chúng tôi kết thúc chuyến thăm tại cổng làng Mông Phụ. Xe đi, nhưng những trầm tích văn hóa, dấu ấn thời gian qua đền thờ hai Vua, đình làng, chùa Mía, nếp nhà, tường rào, ao sen và cả những con người đôn hậu, nhiệt thành đang miệt mài không ngơi nghỉ để giữ hồn làng, viết và kể về làng vẫn còn đọng lại mãi mãi trong tôi.
Cảm ơn em, cảm ơn cụ trẻ – người dẫn chuyện hóm hỉnh, tốt bụng, “cây từ điển sống” của làng. Cảm ơn tất cả đã cho tôi được sống lại một thời oanh liệt của lịch sử cha ông, để dặn lòng mình, cố sống tốt hơn và người hơn!
Viết xong bản thảo 11h40, ngày 26/8/2014
Lê Nguyên Phú


